Tin tức chung

Ưu tiên sử dụng lao động nội địa

Theo báo cáo của các địa phương, số lượng lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc gia tăng, nhất là 3 năm gần đây. Năm 2008, mới có 52.633 người. Đến giữa năm 2011, con số này đã lên tới trên 74.000 người. Tình trạng này đã đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Ông Lê Quang Trung - Phó Cục trưởng Cục Việc làm, Bộ Lao động, Thương binh và xã hội đã có buổi trao đổi với báo chí về vấn đề nêu trên.

Theo số liệu thống kê, số lượng lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc ngày một gia tăng. Tuy nhiên, hiện nay có tình trạng không ít lao động nước ngoài chưa có giấy phép. Vì sao lại có hiện tượng này, thưa ông?

Tỷ lệ lao động nước ngoài được cấp giấy phép làm việc tại Việt Nam đã được nâng lên, nhưng còn có số lượng đáng kể lao động phổ thông là người nước ngoài làm việc cho một số nhà thầu nước ngoài trúng thầu tại Việt Nam, bằng nhiều con đường và hình thức khác nhau chưa được các địa phương tổng hợp và báo cáo đầy đủ.

Các nhà thầu thường vi phạm trong việc làm các thủ tục, cấp giấy phép cho người nước ngoài và người lao động nói chung. Có không ít chủ đầu tư, nhà thầu nước ngoài chỉ khai báo lao động dưới 3 tháng để trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ và thủ tục liên quan. Nguyên nhân chủ yếu, chúng tôi cho rằng, ý thức, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động trong việc tuân thủ pháp luật của Việt Nam còn thấp. Một lý do nữa là có thể do mức xử lý các vi phạm của chúng ta còn thấp, chưa đủ sức để buộc các doanh  nghiệp, những người sử dụng lao động làm đúng quy định.

Hiện nay doanh nghiệp tuyển lao động mà không cấp giấy phép lao động, không làm thủ tục cấp lại giấy phép lao động thì bị phạt từ 15- 20 triệu đồng đối với một hành vi vi phạm.

Có ý kiến cho rằng, Nghị định 46/2011/NĐ-CP bắt buộc trước ít nhất 30 ngày tuyển dụng, người sử dụng lao động là người nước ngoài  phải thông báo nhu cầu tuyển trên các phương tiện thông tin đại chúng. Điều này sẽ gây “khó” cho doanh nghiệp. Xin ông cho biết ý kiến về vấn đề này?


Nghị định 46/2011/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 17/6/2011 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2008/ NĐ-CP ngày 25/3/2008 của Chính phủ quy định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có hiệu lực từ 1/8. Nghị định 46 tiếp tục nêu lại và khẳng định rõ hơn một số điều: Trước ít nhất 30 ngày tuyển dụng, người sử dụng lao động phải thông báo nhu cầu tuyển lao động Việt Nam vào các vị trí dự kiến tuyển lao động nước ngoài trên các báo trung ương và địa phương.

Điều này không gây khó dễ cho doanh nghiệp và cũng đã được quy định trước đó, tại Nghị định số 34. Chỉ có khác, nếu trước đây, không quy định phải nộp bản sao này còn hiện nay, cần nộp để công khai, minh bạch việc tuyển dụng và sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam và việc phải đào tạo lao động trong nước để thay thế dần cho lao động người nước ngoài khi muốn gia hạn giấy phép lao động. Các qui định nêu trên chỉ áp dụng với hình thức người nước ngoài làm việc theo hợp đồng lao động.

Việc quy định những điều khoản trên là để tạo cơ hội việc làm công bằng cho lao động trong nước, nếu doanh nghiệp có trách nhiệm, thì việc thực hiện những điều trên không phải là quá khó khăn. Đây cũng là một giải pháp siết chặt quản lý nhóm lao động ngoại chất lượng thấp, lao động phổ thông và tạo điều kiện cho nguồn nhân công chất lượng cao.

Với số lượng lao động nước ngoài nhiều và đang tăng lên như vậy, theo ông cơ hội việc làm của lao động Việt Nam có bị giảm đi không?


Tuyển lao động nước ngoài là nhu cầu nhưng luật vẫn có những quy định ưu tiên sử dụng lao động Việt Nam.

Chúng ta chỉ tuyển những đối tượng có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, không tuyển lao động phổ thông. Bất kể nước nào, đặc biệt là nước ta  cũng ưu tiên sử dụng lao động nội địa. Trường hợp thiếu lao động nội địa thì mới cần tuyển lao động nước ngoài vào.

Trong Bộ Luật Lao động, khoản 1, điều 132 cũng đã nêu rõ đối với những loại hình lao động có chuyên môn kỹ thuật cao, doanh nghiệp được tuyển lao động nước ngoài trong một thời gian nhất định, sau đó cần phải đào tạo người Việt Nam để thay thế vị trí ấy.

Như vậy, cả trước mắt và lâu dài, những người lao động nước ngoài có trình độ vào Việt Nam là tạo điều kiện cho lao động Việt Nam vươn lên, trưởng thành, kể cả chuyên môn, trình độ, kỹ năng, ý thức thái độ để đảm đương công việc.

Nhiều người cho rằng, trong khi lao động Việt Nam phải mất rất nhiều tiền để sang nước ngoài làm việc thì lao động nước ngoài vào Việt Nam khá dễ dàng. Ông có ý kiến gì về nhận định này?

Vấn đề lao động Việt Nam sang nước ngoài làm việc, mọi chi phí được tính trên cơ sở qui định hiện hành. Đối với người Việt Nam đi xuất khẩu lao động đã có Cục Quản lý lao động nước ngoài, thực hiện chức năng quản lý nhà nước, thực hiện việc đưa đi.

Còn người nước ngoài vào Việt Nam làm việc, chủ yếu là những người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Với những lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao này, chúng ta luôn muốn thu hút, mời chào họ. Tuy nhiên, những đối tượng này vẫn phải đóng lệ phí cho việc cấp giấy phép lao động và làm các thủ tục để được cấp phép lao động. Họ cũng phải thực hiện các chi phí, cũng phải thỏa thuận với chủ sử dụng lao động.

- Xin trân trọng cảm ơn ông!

Hồng Sâm

Theo: tamnhin.net