Cẩm nang nghề nghiệp

17
Trích theo: Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực trường ĐH Kinh Tế

Giữa kinh tế nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực có gì khác nhau. Kinh tế nguồn nhân lực có nghĩa là chúng ta xem xét các khía cạnh kinh tế của nguồn nhân lực với mục tiêu đưa lại lợi ích kinh tế cao nhất với chi phí nguồn nhân lực thấp nhất. Nói cách khác, chúng ta xem xét và lựa chọn các học thuyết kinh tế và vận dụng nó vào lĩnh vực hoạch định các chính sách và ra các quyết định về nguồn nhân lực sao cho chính xác nhất và hiệu quả nhất.

Quản lý là một khái niệm phong phú, được nghiên cứu dưới nhiều giác độ khác nhau. Ở đây chúng ta xem xét ở hai khía cạnh:

Trước hết theo quan điểm hệ thống, quản lý được coi là các hoạt động chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý thông qua một hệ thống các nguyên tắc, quy tắc, phương pháp, công cụ nhất định v.v… hướng các đối tượng quản lý vào việc đạt được mục tiêu chung đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.

Chủ thể quản lý là những bộ phận, những người ra các quyết định quản lý và chịu trách nhiệm về các kết quả của các quyết định đó. Chủ thể quản lý đơn giản nhất có thể là một người, một bộ phận, cũng có thể, chủ quản lý bao gồm một hệ thống nhiều tuyến, nhiều cấp và nhiều các bộ phận chức năng khác nhau. Trong trường hợp đó, những người trong chủ thể quản lý đòi hỏi phải có sự hiểu biết và vận dụng tổng hợp các quy luật trong việc ra các quyết định quản lý.

Đối tượng quản lý là hoạt động của những người, những bộ phận thực thi nhiệm vụ theo chức năng quy định. Các hoạt động đó chịu sự tác động của hệ thống các quy luật tự nhiên, kinh tế, xã hội, tâm lý và tư duy v.v…

Hệ thống các nguyên tắc, quy tắc phương pháp là những căn cứ, cách thức mà chủ thể quản lý dựa vào đó để điều hành các hoạt động của bộ phận mình. Quá trình quản lý là quá trình phối hợp các hoạt động khác nhau của những người, những bộ phận khác nhau theo cùng một hướng. Bởi vậy, nếu thiếu hệ thống này, quá trình quản lý sẽ không diễn ra một cách bình thường được.

Hệ thống các công cụ quản lý là tổng hợp các chính sách, cơ chế vận hành, sự vận dụng các quy luật, các phạm trù cũng như các hệ thống đòn bẩy kích thích các đối tượng quản lý hướng vào mục tiêu của tổ chức.

Thứ hai, quản lý là một hoạt động thực hiện các chức năng kế tiếp nhau. Quan niệm này được Henry Fayol (1861 – 1925) tóm tắt qua năm chức năng: dự kiến (kế hoạch); tổ chức; phối hợp; lãnh đạo (chỉ huy); kiểm tra.

Dự kiến (kế hoạch) là chức năng quan trọng nhất. Chức năng này đòi hỏi người quản lý phải nắm bắt được sự vận động của sự vật hiện tượng, dự kiến các tính huống có thể xảy ra và có biện pháp quản lý để điều chỉnh để chúng vận động đúng hướng. Nói một cách khác, đó là quá trình phát hiện ra những xu hướng vận động của đối tượng quản lý trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

Mọi sự vật hiện tượng luôn luôn ở trạng thái vận động theo những quy luật riêng, con người không thể tạo ra hoặc xóa bỏ nó mà chỉ có thể tạo ra những điều kiện để quy luật tác động đúng hướng và hạn chế những tiêu cực xẩy ra. Muốn nắm bắt được bản chất của sự vận động ấy, phải tiến hành phân tích sự vận động trong quá khứ, phát hiện ra những nhân tố làm chênh lệch mục tiêu của sự vận động và dự báo xu hướng trong tương lai.

Ví dụ, nguồn nhân lực trong phạm vi quốc gia hay trong một địa phương vận động theo những quy luật riêng, dưới sự tác động của các nhân tố như sinh, chết, tăng tự nhiên, tăng cơ học và các nhân tố thuộc về kinh tế, xã hội khác. Muốn quản lý nguồn nhân lực này, đòi hỏi các nhà quản lý phải phân tích được xu hướng biến động cũng như sự tác động của các nhân tố tới số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai.

Tổ chức là chức năng thứ hai trong hoạt đống quản lý (sản xuất). Tổ chức nghĩa là, người ta chia quá trình quản lý ra thành từng khâu, từng bộ phận cấu thành, quy định những chức năng nhiệm vụ của từng khâu, từng bộ phận đó để các bộ phận này thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình để quá trình sản xuất diễn ra một cách bình thường. Chẳng hạn, trong lĩnh vực quản lý, Bộ lao động TB – XH thay mặt nhà nước quản lý nguồn nhân lực xã hội. Để thực hiện nhiệm vụ này, Bộ thành lập các cục, vụ, viện v.v…, mỗi đơn vị phụ trách một hoặc một số chức năng nhất định thuộc Bộ. Quản lý nguồn nhân lực ở các địa phương do các Sở Lao động TBXH (đối với tỉnh, thành phố), các Phòng Lao động (đối với các huyện, thị trấn) và Ban Lao động (đối với xã, phường) thực hiện. Trong nội bộ cụ, vụ, viện, sở Lao động lại có các phòng chức năng giúp việc. Hoạt động đó chính là thực hiện chức năng tổ chức quản lý.

Điều hòa phối hợp là chức năng tiếp theo của hoạt động quản lý. Việc đạt được mục tiêu quản lý không chỉ là sự cố gắng của từng cá nhân mà còn là kết quả của sự hiệp tác chặt chẽ của các loại lao động quản lý. Bởi vậy, việc phối hợp chặt chẽ các loại lao động trong từng bộ phận và giữa các bộ phận với nhau là cần thiết để đảm bảo cho quá trình quản lý không bị rối loạn, ví dụ như, sự phối hợp chặt chẽ các cục, vụ, viện, sở, các phòng ban trong nội bộ từng đơn vị cũng như sự phối hợp giữa Bộ Lao động TBXH với các Bộ khác thông qua từng bộ phận chức năng như Vụ lao động, vụ tiền lương của các Bộ v.v…

Lãnh đạo, chỉ huy là chức năng điều khiển quá trình quản lý bằng mệnh lệnh. Người quản lý ra lệnh và hoàn toàn chịu trách nhiệm về quyết định của mình, các bộ phận bị quản lý thực hiện những mệnh lệnh đó một cách nghiêm túc thì quá trình quản lý không bị rối loạn. Ví dụ như, việc điều chỉnh nhân sự giữa các tổ chức và trong nội bộ tổ chức, việc hoạch định và ban hành các chính sách về lao động và tiền lương v.v…  trong phạm vi quyền hạn cho phép.

Kiểm tra là chức năng cuối cùng của hoạt động quản lý. Đó là hoạt động theo dõi, đo lường kết quả thực hiện của các bộ phận bị quản lý, đối chiếu với các tiêu chuẩn đặt ra. Trên cơ sở đó phát hiện ra những khiếm khuyết để kịp thời điều chỉnh. Nguồn nhân lực được hình thành và phát triển trong những điều kiện nhất định, khi điều kiện thay đổi sự phát triển đó sẽ thay đổi đi. Chính vì vậy, việc kiểm tra sẽ giúp phát hiện và điều chỉnh kịp thời để quá trình phát triển được đúng hướng.

Năm chức năng đầu tiên của hoạt động quản lý có liên quan chặt chẽ với nhau. Nếu coi hoạt động kiểm tra là kết thúc một chu kỳ quản lý thì đồng thời nó mở ra một chu kỳ quản lý mới.

Kinh tế và quản lý có mối quan hệ nhân quả, trong đó kinh tế là mục tiêu, là kết quả cần đạt được, còn quản lý là nguyên nhân, là phương thức, công cụ để đạt được mục tiêu kinh tế đặt ra.

Với tư cách là một nguồn lực quý hiếm của sự phát triển, nguồn nhân lực phải sử dụng một cách có hiệu quả nhất, kinh tế nhất. Nói cách khác, việc sử dụng nguồn nhân lực phải đạt được những mục tiêu cơ bản sau:

-       Phải tiết kiệm nguồn nhân lực xã hội. Điều đó có nghĩa là, nguồn nhân lực phải được sử dụng một cách triệt để, huy động được mọi người có khả năng lao động tham gia vào nền sản xuất xã hội,  giảm số người thất nghiệp và thiếu việc làm.

-       Phải nâng cao không ngừng năng suất lao động, khai thác được hết tiềm năng của cá nhân người lao động. Năng suất lao động nói lên khả năng đạt được một kết quả cụ thể trong đơn vị thời gian lao động cụ thể và trong những điều kiện cụ thể mà hoạt động sản xuất đó diễn ra. Khả năng nâng cao năng suất lao động là vo hạn bởi vì tiến bộ khoa học kỹ thuật không ngừng diễn ra khả năng trí tuệ, sức sáng tạo của con người là vô tận. Nhà quản lý biết khai thác các yếu tố đó trong phát triển.

-       Việc sử dụng con người không chỉ nhằm khai thác triệt để các tiềm năng của người lao động mà còn phải nhằm bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực. Một đặc điểm đặc biệt của quá trình sử dụng nguồn nhân lực là quá trình sử dụng gắn liền với cơ thể sống. Trong quá trình làm việc, người lao động phải hao phí một khối lượng năng lượng nhất định đòi hỏi phải có sự bù đắp tương xứng để có thể tồn tại và phát triển được. Mặt khác, quá trình sử dụng còn là quá trình đòi hỏi người lao động thường xuyên nâng cao trình độ lành nghề, một điều kiện cơ bản để nâng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm đáp ứng được sự thay đổi của điều kiện và môi trường sản xuất và nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Do đó, trong quá trình sử dụng, nhà quản lý phải tạo điều kiện thuận lợi cho con người phát triển toàn diện cả thể lực và tinh thần. Điều đó không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội nhân văn.

Để đạt được mục tieu trên, không có con đường nào khác là phải tổ chức, quản lý nguồn nhân lực một cách khoa học.

Trong điều kiện hiện nay, phân công lao động ngày càng chi tiết, hiệp tác lao động ngày càng chặt chẽ, sản phẩm sản xuất ra không phải là kết quả của một người mà là kết quả của một tập thể người lao động. Trong điều kiện đó, muốn sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả cần thiết phải có hoạt động quản lý dựa trên những nguyên tắc, quy tắc, phương pháp nhất định.

Trong quá trình sản xuất, nguồn nhân lực tuy là một nhân tố quyết định cho sự phát triển, song tự nó không thể phát huy được sức mạnh mà phải liên kết với các nguồn nhân lực khác như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính v.v… Trong mối quan hệ đó, việc kết hợp một cách phù hợp về số lượng và chất lượng giữa nguồn nhân lực với các nguồn lực khác sẽ đưa lại hiệu quả cao nhất.

Danh mục cẩm nang

Chấm công làm việc (0)
..Thời gian làm việc (4)
..Nghỉ chế độ (5)
..Làm ca/kíp (0)
..Làm thêm (1)
..Làm bù (0)
Tuyển dụng và đào tạo (22)
..Các quy định về tuyền dụng (0)
..Nguyên tắc khi tuyển dụng (3)
..Kỹ năng tuyển dụng (23)
..Lập kế hoạch đào tạo (0)
..Đánh giá kết quả đào tạo (0)
..Quản lý chương trình đào tạo (1)
Lương thưởng, phụ cấp (10)
..Tiền lương (30)
..Phụ cấp (7)
..Tiền thưởng (10)
..Phúc lợi và chế độ (3)
..Thanh toán và chi trả lương (7)
Hợp đồng lao động (14)
..Các loại hợp đồng lao động (6)
..Quy định về hợp đồng lao động (6)
..Thanh lý, gia hạn hợp đồng (5)
..Giải quyết tranh chấp (14)
Đánh giá nhân sự (1)
..Đánh giá kết quả lao động (4)
..Khen thưởng kỷ luật (2)
..Đánh giá lực lượng lao động (4)
Thuế thu nhập cá nhân (17)
..Quy định về thuế thu nhập cá nhân (9)
..Xử lý các trường hợp ngoại lệ (2)
..Quyết toán thuế thu nhập cá nhân (2)
Thay đổi, điều chuyển nhân sự (0)
..Bổ nhiệm (0)
..Điều chuyển nhân sự (0)
..Miễn nhiệm (0)
..Chính sách quy hoạch nhân sự (15)
Chế độ cho người lao động (2)
..Bảo hiểm xã hội (10)
..Bảo hiểm y tế (5)
..Bảo hiểm thất nghiệp (2)
..Tai nạn, vệ sinh an toàn lao động (0)
Quản lý nhân sự (2)
..Thông tin về lao động (3)
..Theo dõi diễn biến lương (0)
..Quá trình làm việc (2)
..Quá trình học tập rèn luyện (3)
..Các thành tích (3)
..Lưu trữ hồ sơ (4)
..Quản lý nguồn nhân lực (18)
Tham khảo (0)
..Văn bản pháp luật (20)
..Đề tuyển dụng, câu hỏi phỏng vấn (4)
..Một số quy trình tham khảo (4)
..Các mẫu biểu tham khảo (18)